Language:

lamxuan0603: TRUYỆN KÝ CỦA HOAMAUDONDO ( DHX ) KỲ 1

TRUYỆN KÝ CỦA HOAMAUDONDO ( DHX ) KỲ 1

18 /6/ 2012 | 11:40am
KỲ I : NHỮNG MẢNH ĐỜI Ở XÓM BẠC
Cần phải giải thích ngay về tên xóm, chữ “bạc” ở đây không có nghĩa vàng bạc sang giàu, mà là cờ bạc, bạc tình, bạc phận...Câu chuyện này được ghi chép từ những dữ kiện hoàn toàn có thật.
“Đ. con mẹ m à à ày...”Nó giật bắn mình, cong người, cố chui sâu thêm vào cái chăn bông nặng trịch, nhưng cũng không tránh nổi cú xả tiếp theo của lão hàng xóm thô tục với đủ mọi thứ ngôn ngữ rác rưởi. “Chí Phèo” xóm nó vẫn gào lên, lúc ấy mới chừng 2 giờ sáng. Ban ngày thì chuyện ấy là thường, nhưng thỉnh thoảng giở giời, lão lại vu vơ chửi đêm, nó ở đây lâu, nghe quen rồi, song vẫn chưa quen được cái giật mình. Thường thì giờ này là có thể yên yên để vào giấc, khi mà công cuộc mưu sinh trong ngày của dân xóm tạm lắng xuống. Mấy bác bán quà rong khuya cuối cùng cũng đã lách cách đạp xe về, mấy thím bán đồ ăn sáng ở ga thì 4 giờ mới đẩy xe lọc cọc qua đây. Nó cũng vậy, cả ngày quần quật đủ thứ việc không ra việc...
Nó làm nhân viên của một thẩm mĩ viện - nghe oai ghê, nhất là lúc được nghỉ vài ngày về làng “chém gió” với mấy đứa con gái cùng lứa, từ thuở bé chỉ mỗi ở làng “bán mặt cho đất” - thế nhưng việc chính của nó lại là làm ô-sin. Thẩm mĩ viện của cô chủ thực ra là một tiệm gội đầu được nâng cấp lên. Cô trang bị máy xông hơi, máy cà rung, đóng hai chiếc giường chuyên dụng để làm mặt, thanh lý bớt một giường gội đầu còn lại hai thôi kẻo chật không có chỗ kê, như vậy cũng được bốn chỗ nằm rồi. Cô thửa thêm cái tủ kính to, gắn đèn, bày các loại kem, thuốc...trông cũng chuyên nghiệp lắm, dù nó biết phần lớn trong số đó là vỏ. Với lại, ruột thì cũng ba bảy hai mốt loại, khách hàng biết đâu mà lần. Cô rước cái biển khá to với cái tên mới nghe kêu boong boong : Thẩm mĩ viện Ánh Trăng. Cô lấy chồng về đây đã 5 năm. Mới đầu, khi cô đẻ, nó được thuê để bế em. Hết cữ, cô mở hàng gội đầu, vì phố nhỏ nhưng nhà chồng cô có mặt tiền, không phải mất tiền cửa hàng. Chồng cô lại con độc, nhẹ hẳn khoản tranh chấp. Hàng gội đầu của cô cũng khá khách, sống được. Gần đây khách có nhu cầu làm đẹp nhiều, mấy bà mấy cô giờ đua nhau lột da mặt, xăm mắt, xăm môi...Cô nó đi học một khóa, nghe nói những mười mấy triệu, rồi đem về cái chứng chỉ in trên giấy bóng có cả con dấu đỏ chót, đóng khung chưng lên, thế là cô thành chuyên gia. Còn nó, gãi đầu cho khách đang dẻo tay, đùng một cái thành nhân viên thẩm mĩ. Cô nó tiết kiệm lắm, tự làm cả, phụ cô và việc nhà là nó tất chứ cô chẳng thuê thêm ai. Sáng 5 giờ 30 nó dậy, quét dọn nhà trong nhà ngoài, úp một bát mì ăn liền cô mua để sẵn loại mì cân, tiêu chuẩn bữa sáng của nó. Rồi cho em dậy, dắt em đi ăn cháo và đưa sang lớp mẫu giáo bên cạnh. Gần 8 giờ nó sắp sẵn “đồ” cho cô hành nghề. Rồi lại hai bữa cơm, đón em, giặt giũ...quay cuồng cả ngày đến tận 9 giờ tối. Nhưng cũng tùy, có hôm ế ẩm, tối đến tự dưng khách lù lù kéo vào thì 11- 12 giờ đêm còn chưa được đi ngủ. Cô tham công tiếc việc lắm, có khách là có tiền, cô chẳng bao giờ từ chối. Mà ở thành phố kiếm tiền sướng thật. Nó thấy cô đắp mặt, tẩy trắng cho người ta toàn thứ vớ vẩn mà lấy được tiền dễ như bỡn. Này nhé, quy trình của cô là bôi kem lột da lên mặt, dùng máy cà, rung như kiểu masage. Sau đó xông nóng một lần, lại xông lạnh lần nữa, cứ việc đổ nước lã vào bình, máy chạy thì hơi sẽ phun ra, nóng lạnh là do mình đặt chế độ. Rồi đắp mặt nạ bằng sữa chua, dưa chuột. Khách nằm chừng 20 phút nữa, dậy rửa mặt rồi về. Một lần khoảng 50 phút cô thu 200 nghìn đồng, cô bảo vẫn rẻ chán so với chỗ khác. Mỗi khách cô bán cho họ 2 lọ kem bằng quả quýt, một vàng một trắng để về bôi ở nhà. Một hôm nó xem trộm trong sổ nhập hàng, thấy một cặp đó cô ghi giá là 80 nghìn đồng, vậy mà cô “giã” 450 nghìn một lọ. Gặp bà khách huếnh, cô còn “phang” triệu rưởi một cặp, tỉnh bơ. Cô khôn thật cơ, gội đầu thì thang giá ai cũng biết, chênh lệch cũng tí ti thôi, còn mĩ viện kiểu này làm sao thẩm định được chất lượng, lấy giá vô tư đi. Xóm này có mấy người đi học đâu, biết gì. Hôm nào cô có ca xăm môi, xăm mắt, một mình nó “tác nghiệp” vụ đắp mặt cũng ngon như ăn chè vậy. Một quy trình làm mặt cho một người ít nhất là 20 ngày, cô kiếm bạc triệu như không, vốn chẳng là bao. Cô còn bán thêm kem phấn, quảng cáo là sản phẩm đặc trị, khối người mua. Lúc ế, quay ra gội đầu, đầy việc.
Dù thế, vợ chồng cô vẫn là người làm ăn đàng hoàng nhất xóm. Những người nơi khác đến thuê cửa hàng ngoài phố thì không nói, họ chỉ buôn bán, sáng đi tối về. Là nói những người dân gốc ở đây kia. Hàng chục năm nay họ sống bám vào ga, du nhập đủ mọi kiểu làm ăn, lừa đảo chụp giựt, cờ bạc nghiện hút, đâm thuê chém mướn, trai gái đĩ bợm... đủ hết. Trẻ con lên bảy đã biết xách ấm trà đá với túi kẹo lạc, thuốc lá...đi bán rong trên tàu chợ. Lớn chút nữa thì trộm cắp móc túi, rồi băng đảng, bảo kê...Cần gì học hành. Chả thế mà dân buôn bất động sản gọi đây là “khu lõm”. Giữa lòng Hà Nội, bán buôn tấp nập, vậy mà giá nhà đất không bằng nửa khu khác, chả lõm là gì. Trừ phi chính dân ở đó trúng quả, muốn cải thiện diện tích ở, chứ người nơi khác tham rẻ mà đến, thì chỉ thời gian ngắn là bán xới. Nếu là dân gốc ở xóm này có đôi chút học hành, họ cũng tìm đường đi sớm, an cư nơi khác. Đất này thực ra không phải đất nghèo, mà là đất dữ. Sát ga tàu, bến bãi, khách vãng lai qua lại ngày đêm, nhu cầu ăn uống, ngủ nghỉ, trung chuyển hàng họ...là rất lớn. Nếu để nghiêm túc khai thác các dịch vụ này thì kiếm bộn. Nhưng khốn nỗi ý thức của người bản địa ở đây chỉ là nhăm nhe chăn dắt, chặt chém. Họ kiếm tiền chả khác gì cướp, lúc nào cũng nghĩ phải cướp được nhiều nhất vì khách vãng lai một đi không trở lại và có mất thì cũng lớ ngớ chẳng biết kêu ai. Những nhà có địa điểm, mở quán xá thì điêu trác, vô lương. Karaoke, cà-phê, khách sạn... là nơi chăn dắt gái, hút chích, bay lắc...trá hình. Cơm phở bình dân thì là nơi tiêu thụ tích cực thực phẩm bẩn, rùng mình khu chế biến của họ. Song, âu cũng là luật nhân - quả, kiếm tiền kiểu vậy, cả xóm chẳng nhà nào không có ”hoàn cảnh”. Nó lên đây đã 4 năm. Nhà chồng cô chủ có hai nhà, nhà ngoài phố là nơi cô mở thẩm mĩ và ở luôn. Nhà trong ngõ trước bố mẹ chồng cô ở, sau ông bà đều mất cả thì cô cho thuê. Bảy tháng nay người thuê hết hợp đồng, cô định bán nhưng giá rẻ quá nên tiếc, cũng không muốn cho thuê vì khách hỏi toàn dân tệ nạn, cô sợ tiền mất tật mang. Thế là cô tạm để làm kho và cho nó vào đó ngủ. Lúc đầu, nó sợ lắm, bấy lâu ở bên ngoài, dù cách có một đoạn, nhưng nó đâu có bao giờ vào đây. Ở ngoài dù sao cũng còn sáng, trong này đúng là tối theo mọi nghĩa. Rồi, nó cũng quen dần, nhà kho chẳng có vô tuyến, nó thường sang ông Dậu - tổ trưởng dân phố ngay đối diện xem nhờ. Ông bà mở hàng cho thuê truyện và bán lặt vặt các món đồ khô. Ông bà xởi lởi, hay chuyện, nó cũng thấy vui, hóng hớt được khối thứ.
Đầu tiên là chính nhà ông bà, ông bà có ba người con, bác cả là gái, có học, làm giáo viên và lấy chồng ở mãi Trương Định. Tuần nào bác cũng lên thăm ông bà, biếu tiền, quà, nhưng chỉ nhoáng cái rồi về. Ở đây nhộm nhoạm, bác ấy ngại - ông nói thế. Cậu út mất vì ung thư - cũng là ông nói thế, nhưng chị hàng nước trước cửa khách sạn đầu ngõ lại bảo cậu chết vì nghiện. Còn bác hai thì không làm gì, cũng chẳng có vợ con, suốt ngày ở trên gác xép. Có lần bác xuống, nó nom thấy mà sợ mãi, bác gầy teo, hai mắt như lỗ đáo đỏ quạch, nói lều phều tiếng được tiếng mất. Bà bảo bác đang ốm, lại chị hàng nước cải chính - ông này sắp chết thì có, tiêm chích nhiều, giờ gan ruột ruỗng cả ra - nghe mà rợn người.
Chuyện thứ hai - nhà lão “Chí Phèo”. Tên hiệu này cũng do ông Dậu đặt, tên thật của lão là Quang. Lão ấy trước chuyên đâm chém, đòi nợ thuê, có thời kỳ cũng phú quý lắm, nhà to vợ đẹp. Lão ta thì lắm tật cờ bạc, gái gú, thuốc phiện... Một lần bể mánh, đòi nợ quá tay, lão ta bị đi tù. Ở nhà vợ bán hết gia sản, ôm tiền mang con đi mất biệt, chắc ra hẳn nước ngoài rồi. Lúc lão về, thân tàn ma dại, chỉ còn mỗi góc sân gần chục mét khi bán nhà vợ thương tình bớt lại. Bạn cờ bạc giúp ít gạch xây tường bao và lợp giấy dầu như túp lều, đến cánh cửa cũng không có, trống huơ trống hoác. Lão chả còn gì để mất, chán đời, chỉ tu rượu oàm oạp, sống nhờ vào ít bạc lẻ bọn đàn em ngày trước thỉnh thoảng ném cho. Khi say thì lão ngủ, nhưng trước lúc ngủ là lão chửi, biết gia cảnh lão, chẳng ai dây, chửi mệt lão lăn vào căn phòng tồi tàn và ngáy như sấm. Mới gần 50 mà trông lão như ông cụ, phong độ ngày nào chỉ còn sót lại ở bờ vai rộng ngang khúc khuỷu toàn xương. Thỉnh thoảng ông bà tổ trưởng gọi lão sang cùng ăn bữa cơm rau. Chẹp, cũng đáng thương, thằng này chỉ sống vì rượu, không có rượu chắc nó chết - bà buông một câu rồi thở dài.
Đi sâu vào chút nữa là nhà bác Sử, bán đồ ăn sáng ngoài ga. Bác chết chồng khi chưa đầy 30, có hai mụn con giai nhưng đều hỏng cả. Anh lớn đang bóc lịch vì vô ý làm chết người, vợ con không công ăn việc làm trông cả vào tay bác. Anh thứ hai thì bị bắt vào trại cai nghiện. Thấy bảo anh ấy ở nhà gấu lắm, tụ tập bài bạc, hút hít...có lần còn bóp cổ bác Sử gần chết vì bác không đưa tiền mua thuốc. Bác làm như trâu húc mả, nhưng vẫn nghèo, cái nền nhà bác bị trũng so với các nhà khác, cứ mưa là nước chảy vào tồ tồ, vậy mà mãi vẫn không tôn lên được.
Cạnh nhà bác là nhà chị Lý bán hàng nước đầu ngõ, vua buôn chuyện. Chị ấy đẻ hai đứa con liền, bé lít nhít, chồng làm bảo vệ đêm ở chợ Xanh - dưới Ngã Tư Sở. Có vẻ anh chồng là người tử tế hiền lành, nhưng hễ mở mồm là chị chê : hiền gì, đần thối ra, thế nên mới bị đẩy xuống trông đêm, có kiếm chác được gì đâu. Mấy thằng kia nó khôn lắm, bảo vệ ngày cứ đi một vòng quanh chợ là có tiền, chứ vài triệu bạc lương thời buổi này có mà ăn cám. Buổi tối, chị dọn một cái bàn con con, ngồi ghé trước cửa phụ của khách sạn. Chị giỏi nói, nhưng lười chảy thây, chiều tối mới đi mua quáng quàng cân táo, mấy quả xoài xanh, vài ba bao thuốc, thêm phích nước, ấm chè...làm vốn bán hàng Giá chị chịu khó cất hàng xa xa một tý, rẻ hơn, thì cũng thêm được đồng rau đồng mắm. Đằng này chị cứ buôn đầu chợ, bán cuối chợ, lờ lãi chẳng bao nhiêu nên lúc nào cũng giật gấu vá vai, đến chai dầu ăn chị cũng phải mua trả góp. Rồi quay ra chì chiết, nói xấu anh chồng. Nó đã vào nhà chị một lần, là chị nhờ bê hộ vài món đồ, nhà chị vừa chật vừa bẩn, chị đổ tại hai đứa trẻ bày bừa, chị thì bận, tay đâu mà dọn.
Nhưng ghê nhất vẫn là cái nhà phía sau, chung vách với nhà kho nơi nó ở. Xây 4 tầng hẳn hoi, kín cổng cao tường, lúc nào cũng đóng cửa im ỉm, hiếm khi thấy mặt người trong nhà. Bà Dậu nói, nhà đó chuyên buôn lậu, có khi là cả ma túy nữa, nhiều tiền lắm. Khốn cái nhà ấy có mả điên, cứ đàn ông lấy vợ đẻ con xong, con còn đang đỏ hỏn là quay ra hâm hâm, dở dở. Tiền nong dốc cả vào chạy chữa mà chẳng ăn thua gì, gần đây công an lại truy quét gắt gao địa bàn ga, nên nhà đó cũng sa sút. Một hôm, nó ngồi ở nhà ông bà Dậu, thấy chị con gái đi đâu về, diện lắm, quần ngắn một gang, giày cao dễ đến mười mấy phân, gót nhọn hoắt, kính đen che hết nửa khuôn mặt dài như mặt ngựa. Bà bảo - chị ấy bỏ nhà đi làm gái bao, tiêu toàn tiền “đô”. Nhưng cái lần duy nhất nó được thấy nhiều người trong ngôi nhà bí hiểm đó là hôm đám ma cậu cả. Anh ta 30 tuổi, theo “truyền thống” gia đình, đương nhiên anh ta bị điên sau khi lấy vợ. Vợ anh ta cũng sinh được một bé trai, nhưng nhiệm vụ chính là chăm sóc chồng. Anh này hoang tưởng, luôn nghĩ có người muốn giết mình, anh ta không ăn không uống, sợ bị bỏ thuốc độc. Mấy lần toan nhảy lầu, may người nhà ngăn được. Hôm đó, nó ốm, buổi trưa cô cho nó về nhà kho nghỉ.Uống thuốc xong, nó đang nằm lơ mơ thì nghe một tiếng “uỵch” rõ to phía cửa sổ bên trái, nơi có đường ngách thông ra cổng sau của nhà ga. Nó còn chưa biết chuyện gì thì nghe tiếng hét thất thanh, có lẽ là của chị vợ anh điên - ối giời ơi, cứu, cứu ! Cả xóm túa ra, nó cũng mò dậy nhìn qua cửa sổ. Nó kịp thấy cảnh tượng hãi hùng : anh điên nằm co rúm dưới đất, đầu ngập trong vũng máu, tay chân còn đang giật giật...Sau này mới biết, ăn cơm trưa xong, anh ta đòi đi vệ sinh, nhưng lại muốn đi ngay trong phòng. Thật ra anh ta giả vờ, chị vợ đi lấy bô thì anh ta mở tung cửa ban công, lao đầu xuống va vào tường rào có cắm mảnh chai của nhà dưới.
Nó bị ám ảnh hàng tháng sau đó, may nó cũng là đứa bạo gan. Ở xóm này, yếu bóng vía thì chỉ có chết. Sáng dậy, việc đầu tiên của nó là xách cái chổi ra quét xi-lanh, đêm, lũ nghiện lẻn vào ngõ chích xong vứt bừa, có cái còn đọng cả cc máu. Xớ rớ đạp phải thì oan gia, mất mạng có ngày. Vài bữa, mấy thằng lưu manh lại rượt đuổi nhau rầm rập chạy qua, dao bầu vung loang loáng. Bọn chuyển hàng lậu cũng chọn những ngõ hẻm chằng chịt ở xóm nó mà tuồn hàng, trốn thuế. Với bọn trộm cướp, nơi đây quá lý tưởng cho việc tẩu tán, ẩn nấp. Tuần trước, còn có đứa con gái, chắc là HIV giai đoạn cuối, lở loét đầy người, bỗng dưng ôm cái đệm cáu bẩn đến nằm cuộn tròn ngay trước nhà lão Quang. Nhìn kỹ đứa con gái đó còn rất trẻ, tóc nhuộm vàng hoe, nét mặt khá thanh tú. Mấy ngày sau, không thấy đâu nữa, bà Dậu nói đội chống tệ nạn đến hót đi rồi. Sợ thật ! Còn ông Dậu thì xui nó - ở với cô mày ít năm, có tý dấn vốn, về quê mà lấy chồng, chớ có ham đua thành phố. Như mày không học không tiền, sa vào mấy ổ tệ nạn thì rồi đời. Nó biết chứ, lên Hà Nội từ lúc mười ba, giờ mười bảy, ở quê thì rục rịch lấy chồng rồi. Nó tuy chẳng được học hành, nhưng hiểu chuyện cũng nhanh. Cô nó chỉ ki bo thôi, cơ bản vẫn là người tốt, 4 năm, nó học hỏi được nhiều. Bởi vậy mới nói, so với dân xóm này, vợ chồng cô nó còn chăm chỉ, lương thiện chán. Nó tính ở với cô năm nữa, đợi cái chợ gần nhà nó xây xong, về làng mở tiệm gội đầu rồi kiếm tấm chồng, có khi lại ngon.
“Đ. Com mẹ mà à ày...”, lão Quang vẫn tiếp tục lè nhè dù âm điệu đã đuối dần. Lần này sao lão chửi dai thế không biết, hay là chưa đủ cữ rượu, nên chưa ngủ được ? Lại còn chửi kiểu như kể lể nữa, nhắc đến cả vợ con, có gì đó là lạ, không giống ngày thường. Mà cũng có khi tại rét quá chưa biết chừng. Gió mùa vừa tăng cường hồi chiều, lão ta chỉ có cái chăn mỏng với cái áo na-to rách, nhà thì thông thống...Nó vớ cái khăn, quấn thêm vào đầu, quàng qua tai cho đỡ lạnh và chặn bớt đường nghe rồi thiếp đi...Nó bị đánh thức bởi tiếng kêu của bà Dậu : có ai đó không sang xem thằng Quang nó chết rồi hay sao thế này ? Chỉ vài phút sau, cả xóm náo động. Lúc nó chạy ra ngoài thì trời sáng bạch ra rồi, mọi người xúm đông ở nhà “lão Chí “, lão co quắp trông thật tội nghiệp, mồm há hốc, cái chai lavie nhỏ đựng rượu vẫn còn 1/3. Không phải vì thiếu rượu, lão chết vì lạnh và cô đơn... Haizz...cũng một kiếp người !

Thêm bình luận

Vui lòng Đăng nhập để Bình luận Blog.

Vote

Vote: 0
Điểm: 0 (0 vote)